Kỳ Môn Độn Giáp
Một bàn Kỳ Môn có thể cho chúng ta biết những gì?
Một bàn Kỳ Môn giúp nhìn rõ thời, thế, con người, cơ hội và trở ngại để lựa chọn bước đi phù hợp trong công việc, cuộc sống.
Bước vào tuổi 30 đến 40, một quyết định thường không còn nhẹ như những năm mới trưởng thành.
Đổi một công việc có thể ảnh hưởng đến thu nhập của cả gia đình. Chọn sai người hợp tác có thể làm mất vài năm gây dựng. Mua một căn nhà, mở thêm cửa hàng, đầu tư vào một dự án hay nhận một vị trí mới đều kéo theo tiền bạc, thời gian và trách nhiệm.
Ở tuổi này, phần lớn chúng ta không thiếu cố gắng. Nhiều người cũng đã có kiến thức, kinh nghiệm và khả năng tự chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
Cái khó thường nằm ở chỗ chưa nhìn rõ cục diện:
Việc này đang thuận hay đang nghịch?
Người trước mặt có thật sự muốn hợp tác hay vẫn còn điều chưa nói?
Cơ hội này nên nắm lấy, chờ thêm hay dứt khoát từ bỏ?
Nếu tiến, nên tiến vào lúc nào và bằng cách nào?
Một bàn Kỳ Môn được lập ra để giúp con người quan sát những câu hỏi như vậy.
Nó không phải chiếc máy in sẵn tương lai. Nó cũng không quyết định thay con người. Hiểu theo cách gần gũi, bàn Kỳ Môn là bức ảnh chụp cục diện của một sự việc tại một thời điểm cụ thể.
Trong bức ảnh ấy có thời, có thế, có người, có hoàn cảnh, có lực nâng đỡ, có lực cản và có xu hướng vận động tiếp theo.
Một bàn Kỳ Môn đang nhìn điều gì?
Người mới tiếp xúc với Kỳ Môn thường thấy hàng loạt thuật ngữ như Cửu Tinh, Bát Môn, Bát Thần, Thiên bàn, Địa bàn, Tam Kỳ và Lục Nghi.
Nếu nhìn riêng từng yếu tố, bàn Kỳ Môn giống một hệ thống ký hiệu phức tạp. Khi đặt các yếu tố vào đúng quan hệ, toàn bộ bàn bắt đầu kể câu chuyện của sự việc.
Cửu Tinh biểu hiện một phần tính chất và năng lực. Bát Môn liên quan đến trạng thái hành động và con đường sự việc đang đi. Bát Thần giúp nhìn thêm lớp khí tượng ẩn phía sau. Thiên can, địa bàn, cung vị và quan hệ ngũ hành cho biết các yếu tố đang nâng đỡ, chế ước hay làm tiêu hao lẫn nhau.
Người luận còn phải xác định đúng dụng thần, tức yếu tố đại diện cho người hoặc việc đang được hỏi. Hỏi sai trọng tâm, chọn sai dụng thần thì phía sau dù luận rất dài cũng dễ đi chệch.
Vì vậy, xem một bàn Kỳ Môn không nằm ở việc nhìn thấy một cửa tốt hay một ngôi sao xấu rồi vội kết luận. Phải nhìn toàn bộ cục diện, sau đó mới xét từng lớp.
Biết một ký hiệu là biết một chữ. Hiểu quan hệ giữa các ký hiệu mới đọc được câu chuyện.
1. Biết việc đang thuận hay đang nghịch
Điều đầu tiên một bàn Kỳ Môn có thể giúp chúng ta nhận ra là trạng thái của sự việc.
Sự việc đang mở hay đang bế? Có lực nâng đỡ hay gặp nhiều sức cản? Khó khăn chỉ xuất hiện trong một giai đoạn hay đã nằm ngay trong cấu trúc của vấn đề?
Cùng là một kế hoạch kinh doanh chưa đem lại kết quả, nguyên nhân có thể rất khác nhau.
Có người chọn đúng sản phẩm nhưng vào thị trường quá sớm. Có người gặp đúng thời điểm nhưng nguồn vốn chưa đủ. Có người có tiền, có sản phẩm, có khách hàng nhưng người cùng làm lại thiếu đồng lòng. Cũng có trường hợp mọi điều kiện bên ngoài khá thuận, trở ngại lớn nhất lại nằm ở sự do dự của người thực hiện.
Nếu chỉ nhìn kết quả rồi nói “chưa gặp vận”, ta dễ bỏ qua nguyên nhân có thể sửa được.
Qua trạng thái của dụng thần, quan hệ giữa các cung và sự kết hợp của tinh, môn, thần, kỳ, nghi, người luận có thể xem xét lực cản đang đến từ đâu.
Nếu vấn đề nằm ở thời điểm, cần chờ hoặc chuẩn bị thêm. Nếu vấn đề nằm ở nguồn lực, cần củng cố nền tảng. Nếu vấn đề nằm ở quan hệ, phải xem lại cách hợp tác và phân chia quyền lợi. Nếu kế hoạch đã sai từ gốc, tiếp tục đổ thêm tiền và công sức thường chỉ làm tổn thất lớn hơn.
Nhìn ra thuận nghịch giúp người ta biết nên dùng sức ở đâu.
Có việc càng thúc càng mở. Có việc càng thúc càng rối. Có cánh cửa đang khép vì thời chưa đến. Cũng có cánh cửa vốn chẳng dẫn tới nơi mình muốn đi.
2. Biết mình đang ở vị trí nào trong cục diện
Con người thường nhìn một sự việc từ vị trí của mình. Vì đứng ở bên trong, chúng ta dễ phóng đại khó khăn của bản thân và đánh giá thiếu chính xác sức mạnh của những bên còn lại.
Một bàn Kỳ Môn đặt người hỏi vào toàn bộ mặt bàn.
Qua đó, người luận có thể xem mình đang vượng hay suy, chủ động hay bị động, được hoàn cảnh nâng đỡ hay đang tiêu hao quá nhiều để duy trì một tình thế vốn bất lợi.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa với người ở tuổi 30 đến 40.
Có người đã làm trong một công ty mười năm, chuyên môn tốt nhưng vị trí phát triển ngày càng hẹp. Vì đã đầu tư quá nhiều thời gian nên họ không muốn rời đi. Càng ở lại lâu, quyết định thay đổi càng trở nên khó khăn.
Có người đang kinh doanh một lĩnh vực quen thuộc nhưng thị trường đã chuyển. Họ vẫn cố giữ cách làm cũ vì đó từng là công thức đem lại thành công.
Trong những tình huống như vậy, bàn Kỳ Môn giúp người hỏi nhìn lại vị trí thật của mình.
Mình còn lực để tiến tiếp hay đang cố giữ một thế đã suy? Năng lực của mình đang được sử dụng đúng chỗ chưa? Vấn đề nằm ở bản thân, ở môi trường hay ở sự lệch nhau giữa năng lực và vị trí hiện tại?
Biết mình đang đứng ở đâu là bước đầu để chọn đường.
Một người ở thế yếu chưa chắc phải rút. Nếu có thời và có người hỗ trợ, họ vẫn có thể từng bước chuyển thế. Một người đang mạnh cũng chưa chắc nên tiến ngay. Nếu phía trước là cục diện tiêu hao, giữ lực đôi khi sáng suốt hơn giành một thắng lợi ngắn.
3. Biết người liên quan đang ở thế nào
Phần lớn việc lớn đều có nhiều người tham dự.
Trong công việc có mình, cấp trên, đồng nghiệp, khách hàng và người ra quyết định. Trong kinh doanh có đối tác, người góp vốn, nhà cung cấp, nhân sự và đối thủ. Trong gia đình có vợ chồng, cha mẹ, con cái cùng những trách nhiệm đan xen.
Qua việc xác định các dụng thần đại diện cho từng bên, người luận có thể quan sát quan hệ giữa họ.
Ai đang giữ thế chủ động? Ai cần ai nhiều hơn? Bên nào có khả năng hỗ trợ? Bên nào đang gây sức ép? Quan hệ đang tương sinh, tương trợ hay chế ước lẫn nhau?
Ví dụ, hai người cùng muốn mở một cửa hàng.
Một người có vốn và mặt bằng. Người còn lại có chuyên môn, khách hàng và khả năng vận hành. Bề ngoài đây là một sự kết hợp khá đẹp. Nhưng nếu người có vốn muốn kiểm soát toàn bộ quyết định, còn người vận hành lại cần quyền chủ động chuyên môn, mâu thuẫn đã nằm sẵn trong cấu trúc hợp tác.
Bàn Kỳ Môn có thể giúp nhìn ra sự mất cân bằng ấy để hai bên trao đổi rõ từ đầu.
Trong môi trường văn phòng cũng vậy. Một đề xuất bị trì hoãn chưa chắc vì nội dung kém. Có thể người trực tiếp quản lý đang lo mất quyền kiểm soát. Có thể bộ phận liên quan chưa thấy lợi ích của họ. Cũng có thể người đưa ra đề xuất đã trình bày đúng việc nhưng sai người.
Kỳ Môn giúp nhận ra chiều vận động của quan hệ. Nó không được dùng để kết tội hay dán nhãn một con người.
Nếu bàn xuất hiện dấu hiệu mập mờ, việc cần làm là kiểm tra hợp đồng, số liệu, lịch sử làm việc và cách đối phương thực hiện cam kết. Thuật chỉ ra nơi cần xem kỹ. Chứng cứ thực tế mới giúp chúng ta đưa ra kết luận có trách nhiệm.
4. Biết thời điểm nên tiến, nên chờ hay nên đổi
Thời gian là một trục quan trọng của Kỳ Môn.
Trong Kỳ Môn Độn Giáp Thống Tông, hệ thống âm độn, dương độn, tiết khí, thời lệ, Cửu Tinh và Bát Môn đều gắn bàn Kỳ Môn với sự biến đổi của thời gian.
Thời điểm thay đổi, quan hệ giữa các yếu tố trên bàn cũng thay đổi. Vì thế, cùng một người, cùng một năng lực và cùng một việc, có lúc tiến rất thuận, có lúc lại vướng đủ đường.
Trong công việc, một đề xuất tăng ngân sách có thể bị từ chối khi doanh nghiệp đang thu hẹp chi phí. Vài tháng sau, khi công ty cần mở rộng thị trường, đề xuất ấy lại trở thành giải pháp đúng lúc.
Xin tăng lương cũng vậy. Nếu nói khi bản thân chưa có kết quả rõ ràng, công ty đang khó khăn và vị trí của mình dễ thay thế, khả năng được chấp nhận thường thấp. Nếu vừa hoàn thành một dự án lớn, doanh nghiệp cần giữ người và mình đang có thêm lựa chọn khác, thế thương lượng đã thay đổi.
Chuyện chuyển việc càng cần nhìn thời.
Có người muốn nghỉ vì một giai đoạn mệt mỏi ngắn. Nếu vội rời đi, họ có thể đánh mất một vị trí đang chuẩn bị mở ra. Có người đã ở trong môi trường hết khả năng phát triển nhưng cứ chờ một sự thay đổi khó xảy ra.
Một bàn Kỳ Môn có thể giúp phân biệt ba trạng thái:
Có việc nên hành động ngay vì cơ hội đã hình thành. Có việc cần chuẩn bị thêm vì thời mở nhưng lực chưa đủ. Có việc nên đổi cách tiếp cận vì con đường hiện tại càng đi càng tiêu hao.
Biết chờ không đồng nghĩa với yếu. Chờ đúng lúc là giữ lực. Tiến đúng lúc là biết dùng lực. Đổi đường đúng lúc là tránh biến sự kiên trì thành cố chấp.
5. Biết cơ hội nằm ở đâu
Cơ hội hiếm khi xuất hiện dưới hình thức một cánh cửa sáng rõ.
Đôi khi nó nằm trong một mối quan hệ mới, một vị trí đang thiếu người, một thị trường chưa nhiều người chú ý hoặc một nguồn lực bản thân đã có nhưng chưa biết sử dụng.
Có người nghĩ cơ hội của mình nằm ở việc mở rộng quy mô, trong khi lợi thế thật lại nằm ở một nhóm khách hàng nhỏ nhưng ổn định. Có người mải đi tìm công việc mới mà chưa nhận ra vị trí hiện tại đang mở ra một vai trò quan trọng hơn. Có người muốn đầu tư thêm tiền, nhưng thứ họ cần trước tiên lại là thay đổi cách vận hành.
Qua cấu trúc của bàn, người luận có thể xem lực thuận đang tập trung ở đâu, liên quan đến ai, xuất hiện theo phương vị nào và có phù hợp với mục tiêu của người hỏi hay không.
Ở đây phải phân biệt giữa cơ hội và sự hấp dẫn.
Một việc nhìn rất lớn chưa chắc phù hợp. Một lời mời có lợi ích trước mắt chưa chắc giúp người ta đi đúng hướng. Một dự án đem lại doanh thu cao nhưng làm cạn dòng tiền và sức lực có thể trở thành gánh nặng.
Người ở tuổi 30 đến 40 thường ít sợ thiếu cơ hội hơn sợ chọn nhầm cơ hội. Bởi cái giá phải trả lúc này không còn là vài tháng thử nghiệm. Có quyết định khiến ta mất nhiều năm mới quay lại được vị trí ban đầu.
Kỳ Môn giúp nhìn đồng thời phần được và phần phải trả của một lựa chọn.
6. Biết trở ngại đến từ đâu
Trở ngại có nhiều loại.
Có trở ngại nhìn thấy ngay như thiếu vốn, thiếu nhân sự, hồ sơ chưa đầy đủ hoặc năng lực chưa đáp ứng yêu cầu. Có trở ngại nằm sâu hơn như thông tin sai lệch, mục tiêu hai bên khác nhau, nội bộ thiếu đồng lòng hoặc người quyết định vẫn chưa xuất hiện.
Nếu xác định sai nguồn gây cản trở, chúng ta rất dễ dùng nhầm giải pháp.
Một cửa hàng vắng khách chưa chắc do vị trí xấu. Vấn đề có thể nằm ở sản phẩm, giá bán, trải nghiệm khách hàng hoặc cách tiếp cận thị trường. Một nhân viên không được thăng tiến chưa chắc do cấp trên không công nhận. Có thể năng lực chuyên môn tốt nhưng khả năng quản lý và phối hợp vẫn chưa đủ.
Bàn Kỳ Môn giúp tách các lớp của trở ngại để người hỏi biết việc nào có thể sửa, việc nào cần chờ và việc nào nên tránh.
Nếu trở ngại đến từ người khác, cần thay đổi cách giao tiếp hoặc điều kiện hợp tác. Nếu đến từ bản thân, cần bổ sung năng lực. Nếu đến từ thời thế, phải giữ sức. Nếu bản chất của việc đã bất lợi, dừng lại có thể là phương án ít tổn thất hơn.
Giá trị của việc luận đoán nằm ở chỗ tìm được nguyên nhân đủ gần với thực tế để con người hành động.
7. Biết phương vị và không gian nào có thể sử dụng
Kỳ Môn gắn chặt với thời gian và phương vị. Vì vậy, bàn Kỳ Môn có thể được vận dụng khi xem hướng xuất hành, vị trí gặp gỡ, nơi thực hiện một hoạt động quan trọng hoặc cách sử dụng không gian nhà ở và nơi làm việc.
Tuy nhiên, một phương vị tốt trên bàn chưa chắc đã dùng được ngay.
Ngoài thực tế, khu vực ấy có thể là nhà vệ sinh, kho kín, góc thiếu sáng, cầu thang hoặc nơi không thể mở cửa và sinh hoạt. Nếu công năng hoàn toàn bất tiện thì cái tốt trên bàn cũng khó chuyển thành tác dụng thực tế.
Phong thủy cần đi vào cửa thật, phòng thật, lối đi thật và con người đang sử dụng không gian ấy.
Với người làm văn phòng, phương vị có thể được xem xét khi chọn vị trí ngồi, nơi trình bày một đề xuất hoặc hướng tiếp cận một cuộc gặp. Với người kinh doanh, cần nhìn thêm cửa ra vào, dòng người, quầy giao dịch, khu vực tạo doanh thu và cách khách hàng di chuyển. Với nhà ở, phải xét phòng ngủ, bếp, cửa, khu sinh hoạt chung và nhu cầu của từng thành viên.
Một cung có yếu tố thuận nhưng đặt sai công năng vẫn khó phát huy. Một khu vực chưa hoàn toàn lý tưởng nhưng được sử dụng đúng, giữ sạch sẽ, thông thoáng và phù hợp với đời sống có thể giảm bớt nhiều bất lợi.
Biết phương vị mà quên công năng là thấy được hình nhưng chưa hiểu cách dùng.
8. Biết xu hướng phát triển của sự việc
Trong Kim Hàm Ngọc Kính Kỳ Môn Độn Giáp Bí Cấp Toàn Thư, Kỳ Môn được triển khai vào nhiều việc như cầu tài, hôn sự, thăng tiến, bệnh tật, tìm người, tìm vật, vay mượn, gặp gỡ, xuất hành và xem tin tức hư thực.
Điều đó cho thấy người xưa dùng Kỳ Môn để quan sát những vấn đề rất gần với đời sống.
Khi xem một việc, người luận cần quan tâm đến quá trình vận động.
Sự việc ban đầu ra sao? Trở ngại xuất hiện ở giai đoạn nào? Có khả năng chuyển biến hay đang suy dần? Kết quả nghiêng về hướng nào? Nếu tiếp tục, cái giá phải trả là gì?
Một dự án trì hoãn chưa chắc đã thất bại. Có trường hợp hồ sơ bị giữ nhưng sau đó vẫn thông. Có việc khởi đầu rất thuận, càng đi sâu càng lộ mâu thuẫn. Cũng có cơ hội nhìn hấp dẫn ở giai đoạn đầu nhưng lực bên trong yếu, khó duy trì lâu dài.
Nhìn xu hướng giúp người hỏi chuẩn bị cho nhiều khả năng, thay vì ngồi chờ một câu trả lời có hoặc không.
Bàn Kỳ Môn phản ánh cục diện tại thời điểm lập bàn. Khi con người thay đổi hành động, bổ sung nguồn lực hoặc hoàn cảnh bên ngoài chuyển biến, kết quả cũng có thể đổi theo.
9. Sau cùng, phải biết mình nên làm gì
Một lời luận dài nhưng không giúp người hỏi lựa chọn hành động thì vẫn còn thiếu phần thiết thực nhất.
Sau khi nhìn thời, thế, người, cơ hội và trở ngại, bàn Kỳ Môn cần đưa người hỏi trở về những quyết định cụ thể.
Nên tiến ngay hay chuẩn bị thêm? Nên tiếp tục thương lượng hay dừng hợp tác? Nên nói thẳng vấn đề hay xây dựng lòng tin trước? Nên giữ vị trí hiện tại, chuyển việc hay chờ thời điểm khác? Nên dùng phương vị nào và dùng vào mục đích gì?
Câu trả lời đôi khi là tiến. Đôi khi là chờ. Cũng có lúc phải lùi lại để giữ nguồn lực cho việc đáng làm hơn.
Lùi chưa chắc là thua. Tiến chưa chắc là thắng.
Sai lầm thường nằm ở chỗ hành động trái thời, dùng sức sai nơi hoặc muốn đạt một kết quả vượt quá nền tảng hiện có.
Một bàn Kỳ Môn đẹp không thể cứu một kế hoạch cẩu thả. Một giờ tốt không thể biến việc sai thành việc đúng. Một phương vị thuận cũng không thay thế được kiến thức, năng lực và sự chuẩn bị.
Kỳ Môn có thể biết nhiều, nhưng luôn có giới hạn
Khi liên quan đến pháp lý, cần kiểm tra hồ sơ và hỏi người có chuyên môn. Khi liên quan đến đầu tư, phải xem dòng tiền, hợp đồng và mức độ rủi ro. Khi liên quan đến sức khỏe, thăm khám y khoa luôn cần được đặt đúng vị trí.
Kỳ Môn cung cấp thêm một góc nhìn về thời và thế. Nó giúp người ta nhận ra phần đang thuận, phần đang nghịch và những biến số cần chú ý trước khi quyết định.
Dùng Kỳ Môn đúng là tăng thêm sự tỉnh táo. Dùng sai dễ khiến con người trao trách nhiệm của mình cho một bàn tính.
Thuật có thể soi sáng một đoạn đường. Nó không thể bước thay người.
Vậy một bàn Kỳ Môn có thể cho chúng ta biết những gì?
Xét đến cùng, một bàn Kỳ Môn giúp làm rõ bốn câu hỏi:
Mình đang đứng ở đâu trong cục diện này?
Thời đang mở hay đang khép?
Thế đang nâng mình lên hay kéo mình xuống?
Bước tiếp theo nào phù hợp nhất với nguồn lực hiện có?
Ở tuổi 30 đến 40, một lựa chọn đúng chưa chắc đem lại cảm giác thắng ngay lập tức. Nhiều khi, giá trị của nó nằm ở việc giúp chúng ta tránh tiêu tốn thêm năm năm cho một con đường đã sai từ điểm xuất phát.
Kỳ Môn cho ta một tấm bản đồ của thời và thế.
Đọc được bản đồ là bước đầu. Chọn đường, chuẩn bị hành trang và thực sự bước đi vẫn là việc của mỗi người.
Phú Hà
Luôn có một góc nhìn khác
